Stress oxy hóa là gì? TÁC HẠI của nó đối với hệ tim mạch

Stress oxy hóa là gì? Tác hại của nó đối với hệ tim mạch

Stress oxy hóa được hiểu đơn giản là tình trạng các chất oxy hóa chiếm ưu thế hơn so với các chất chống oxy hóa bảo vệ trong cơ thể. Cùng Thế Giới Điện Giải tìm hiểu sâu hơn về tình trạng này.

Stress oxy hóa được hiểu đơn giản là tình trạng các chất oxy hóa chiếm ưu thế hơn so với các chất chống oxy hóa bảo vệ trong cơ thể. Cùng Thế Giới Điện Giải tìm hiểu sâu hơn về tình trạng này.

Stress oxy hóa có ảnh hưởng gì đến tim mạch?
Stress oxy hóa có ảnh hưởng gì đến tim mạch?

1. Stress oxy hóa là gì?

Cơ thể người được cấu tạo từ nhiều loại tế bào và mỗi loại có chức năng khác nhau như tế bào tim co bóp đẩy máu lưu thông tuần hoàn, tế bào gan giải độc, tế bào tụy tiết insulin ổn định lượng đường máu. Để thực hiện các chức năng đó, tế bào phải tự tổng hợp năng lượng cho mình. Quá trình tổng hợp năng lượng sinh ra sản phẩm thừa gọi là các “gốc tự do” – gây nên sự lão hóa và nhiều bệnh tật. Một phần khác, các “gốc tự do” được hình thành từ quá trình viêm hay hóa chất, thuốc lá, môi trường bên ngoài tác động (ngoại sinh).

Nhưng thật may là, cơ thể chúng ta có cơ chế tự sản xuất được các chất “chống oxy hóa” để trung hòa các “gốc tự do” có hại. Tuy nhiên vì một lý do nào đó, cơ thể không thể trung hòa được hết các gốc tự do, dẫn đến tình trạng stress oxy hóa. Stress oxy hóa gây nên nhiều bệnh, đặc biệt là các bệnh lý về tim mạch như xơ vữa động mạch, suy tim…

Gốc tự do (Free Radicals) có xu hướng tấn công các tế bào khỏe mạnh để cướp e-, các chất chống oxy hóa (Antioxidants) giúp trung hòa các gốc tự do bằng cách trả lại e-
Gốc tự do (Free Radicals) có xu hướng tấn công các tế bào khỏe mạnh để cướp e-, các chất chống oxy hóa (Antioxidants) giúp trung hòa các gốc tự do bằng cách trả lại e-

2. Tìm hiểu về hệ tim mạch

- Hệ thống tuần hoàn: gồm các cơ quan lưu thông các chất dinh dưỡng (như bạch huyết, axit amin, chất điện giải), nội tiết tố, khí máu, tế bào máu đến và đi khỏi các tế bào giúp cơ thể chiến đấu với bệnh tật, ổn định nhiệt độ, độ pH để duy trì sự hằng định nội môi. Đây là mạng lưới phân phối máu, vì vậy một số tác giả xem xét hệ thống tuần hoàn bao gồm các hệ thống tim mạch (phân phối máu) và hệ bạch huyết.

- Hệ tim mạch: gồm tim, máu và các mạch máu có 2 vòng tuần hoàn là tuần hoàn phổi và tuần hoàn hệ thống. Trong đó tuần hoàn phổi là vòng tuần hoàn đi qua phổi, nơi máu được cung cấp oxy. Còn tuần hoàn hệ thống là một vòng tuần hoàn đi qua các cơ quan còn lại trong cơ thể để cung cấp máu đã được oxy hóa cho các mô. Trung bình một người lớn chứa khoảng 4.7 – 5.7 lít máu, chiếm 7% tổng trọng lượng cơ thể họ. Máu bao gồm huyết tương, tế bào máu, bạch và tiểu cầu.

Hệ tim mạch gồm tim, máu và các mạch máu
Hệ tim mạch gồm tim, máu và các mạch máu

- Động mạch: là những mạch máu mang máu ra khỏi tim, máu này đã được oxy hóa trừ động mạch phổi và rốn. Vì vậy, động mạch là phần có áp lực cao trong hệ thống tuần hoàn với sự thay đổi giữa áp suất đỉnh khi tim co bóp (được gọi là huyết áp tâm thu) và mức tối thiểu huyết áp tâm trương giữa các lần co bóp tim, lúc tim dãn ra và máu lại đổ về tim. Sự thay đổi này tạo ra dạng xung được nhìn thấy trong bất kỳ động mạch nào và phản ánh rõ hoạt động của tim. Động mạch cũng có chức năng giúp tim bơm máu, mag máu đi khỏi tim trong khi tĩnh mạch giữ cho máu chảy đến tim. Hầu hết các động mạch đều mang máu được oxy hóa đi khỏi tim đến các mô cần cung cấp oxy trong cơ thể (ngoại trừ động mạch phổi).

- Tĩnh mạch: là những mạch máu có chức năng mang máu đến tim. Tuy nhiên các tĩnh mạch mang máu đã mất oxy (máu chết) từ các mô trở về tim (ngoại trừ tĩnh mạch phổi và rốn). Tĩnh mạch khác với động mạch ở cả cấu trúc chức năng. Điển hình, tĩnh mạch thường có ít cơ hơn động mạch đồng thời gần gũi với da hơn và có các van giúp giữ máu chảy về tim, trong khi các động mạch mang máu ra khỏi tim.

3. Tác động của stress oxy hóa đối với bệnh tim mạch

3.1. Mối quan hệ giữa stress oxy hóa và xơ vữa động mạch

Các nghiên cứu đều cho thấy, stress oxy hóa có liên quan mật thiết đến quá trình tăng lipid máu (mỡ máu) dẫn đến xơ vữa động mạch. Trong đó, phản ứng oxy hóa là phản ứng miễn dịch bẩm sinh trong cơ thể giúp chống lại sự nhiễm trùng, bằng cách thay đổi chuyển hóa lipid và lipoprotein, trung hòa tác động nội độc tố độc hại. Khi chuyển hóa lipid thay đổi (giảm) giúp hạn chế sự gia tăng stress oxy hóa và lipopolysaccharide trong tuần hoàn. Mặc dù những thay đổi này có lợi giúp bảo vệ cơ thể nhưng nếu trở thành mạn tính, chúng sẽ làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch.

Ngoài ra, quá trình oxy hóa lipoprotein (kết quả từ sự mất cân bằng của chất oxy hóa và chống oxy hóa) vốn có liên quan dẫ đến bệnh xơ vữa động mạch và thay đổi chức năng tế bào. Còn  oxy hóa lipid gây ra bởi phản ứng oxy hóa có nguồn gốc từ bạch cầu, khuếch đại sự hình thành tế bào bọt thông qua sự hình thành và bắt lấy các lipoprotein mật độ thấp LDL đã được oxy hóa (oxy LDL).

Các enzyme chính tham gia vào quá trình oxy hóa LDL là NADPH oxydase và myeloperoxidase, đồng thời hoạt động trong thời gian xảy ra oxy hóa. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (invitro) đã chỉ ra rằng oxy LDL có thể gây ra nhiều quá trình tiền xơ vữa. Cụ thể là gây ra sự trưởng thành của tế bào đuôi gai, điều chỉnh hoạt động của các đại thực bào và tế bào T, các thành phần này đều có tham gia vào việc phát triển mảng xơ vữa. Hiểu biết về mối quan hệ giữa oxy hóa oxy LDL và bạch cầu giúp giải thích cho sự phát triển trong giai đoạn đầu xơ vữa động mạch.

3.2. Quá trình hình thành xơ vữa động mạch

Xơ vữa động mạch còn được gọi là bệnh mạch máu (do xơ vữa hoặc ASVD) là tình trạng động mạch dày lên bởi sự tích tụ các chất béo như là cholesterol. Đây là hội chứng ảnh hưởng lớn đến động mạch, tạo ra phản ứng viêm mạn tính trong các thành của động mạch bởi sự tích tụ các đại thực bào và được thúc đẩy bởi các lipoprotein mật độ thấp (LDL – một đoạn protein chứa cholesterol và chất béo trung tính trong huyết tương). Xơ vữa động mạch được hình thành bởi nhiều mảng xơ vữa trong thành động mạch, là nguyên nhân gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, đặc biệt là bệnh động mạch vành và bệnh mạch máu não.

Bệnh học xơ vữa động mạch rất phức tạp, những mảng xơ vữa động mạch thường tiến triển âm thầm, không có triệu chứng cho đến khi lòng mạch bị hẹp nghiêm trọng làm cho nguồn cung cấp máu cho mô hạ lưu không còn đủ dẫn đến thiếu máu cục bộ. Điều này được gọi là “sự im lặng lâm sàng” bởi vì người bị nhồi máu không thấy có vấn đề gì trong thời điểm này.

Khi các mảng xơ vữa mềm thường đột nhiên bong ra dẫn đến sự hình thành huyết khối và nhanh chóng làm giảm hoặc ngăn chặn hoàn toàn dòng chảy của máu, có khả năng làm chết các mô được nuôi dưỡng bởi động mạch đó trong khoảng thời gian 5 phút gây nhồi máu, thường thấy nhất là huyết khối động mạch vành gây nhồi máu cơ tim. Còn quá trình xảy ra tương tự trong động mạch não được gọi là đột quỵ. Một biến chứng thường gặp khác là chứng đi khập khiễng do thiếu hụt cung cấp máu cho các chân (được gây ra bởi sự kết hợp của đoạn hẹp và các phình động mạch nhưng bị thu hẹp lòng mạch bởi các cục máu đông).

Như vậy, xơ vữa động mạch ảnh hưởng đến toàn bộ các động mạch, nhất là ở các mạch máu lớn, áp lực cao như động mạch vành, thận, xương đùi, não và động mạch cảnh.

Các vị trí hình thành các mảng xơ vữa động mạch ở các mạch vành nuôi dưỡng cơ tim và mức độ làm hẹp thành mạch của chúng
Các vị trí hình thành các mảng xơ vữa động mạch ở các mạch vành nuôi dưỡng cơ tim và mức độ làm hẹp thành mạch của chúng

- Thông thường, các trường hợp hẹp ít hơn 50% thường chưa có triệu chứng, hẹp trên 70% gây ra các cơn đau tim thắt ngực khi gắng sức (vì thiếu máu cục bộ) hoặc nhồi máu cơ tim (chết vùng cơ tim bên dưới do tắc hoàn toàn máu).

Xơ vữa động mạch não làm hẹp lòng mạch máu
Xơ vữa động mạch não làm hẹp lòng mạch máu

- Nguyên nhân: khi có những cục máu đông (blood clot) hay các mảnh vỡ của các mảng xơ vữa động mạch từ các nơi khác trôi đến vị trí hẹp này gây tắc hoàn toàn dòng chảy dẫn đến nhồi máu não.

Mảng xơ vữa động mạch làm hẹp lòng động mạch chi dưới làm giảm lưu lượng máu lưu thông

Mảng xơ vữa động mạch làm hẹp lòng động mạch chi dưới làm giảm lưu lượng máu lưu thông

- Đây là tổn thương bệnh học của chứng khập khiễng cách hồi (claudification), là triệu chứng điển hình của bệnh hẹp tắc động mạch gây ra. Bệnh được mô tả với cảm giác co rút, thắt chặt, đau nhức, rất khó chịu, xảy ra sau khi người bệnh hoạt động, đi lại một quãng đường nhất định. Ngoài ra, chứng khập khiễng cách hồi có thể kèm theo các dấu hiệu khác do động mạch bị hẹp tắc mạn tính như giảm hay mất mạch một bên chân, sờ một bên thấy lạnh hơn bên đối diện, teo cơ, rụng lông, hư móng, chân tái nhợt hơn khi giơ cao.

4. Tầm quan trọng của các chất chống oxy hóa trong cơ thể

Trong một cơ thể khỏe mạnh, gốc tự do và chất chống oxy hóa tồn tại theo một tỷ lệ tự nhiên nhất định. Nhưng nếu hệ thống bảo vệ suy yếu, thì các gốc tự do có thể tấn công màng tế bào, protein, chất béo và acid desoxyribonucleic, với vai trò thiết yếu trong cơ chế di truyền. Về lâu dài, stress oxy hóa này dẫn đến thoái hóa hay chết sớm của các tế bào.

Chất chống ô xy hóa là chất giúp ngăn chặn hoặc làm chậm quá trình ô xy hóa chất khác. Sự ô xy hóa là loại phản ứng hóa học trong đó electron được chuyển sang chất ô xy hóa, có khả năng tạo các gốc tự do sinh ra phản ứng dây chuyền phá hủy tế bào cơ thể. Các chất có tác dụng chống ô xy hóa như: glutathione, vitamin C, vitamin E, enzyme catalase, a xít citric, selen, các yếu tố vi lượng và các hoạt chất sinh học...

Dù quá trình ô xy hóa diễn ra liên tục trong cơ thể nhưng cơ thể có thể hạn chế tác hại của nó bởi bản thân cơ thể có các enzyme trung hòa gốc tự do. Tuy nhiên, việc bổ sung các chất chống oxy hóa từ thức ăn và nước uống hằng ngày là điều cần thiết giúp bảo vệ các tế bào trong cơ thể trước nguy hại của gốc tự do bằng cách khử đi các gốc tự do và kìm hãm sự ô xy hóa bằng cách ô xy hóa chính chúng. Trong đó, Hydrogen là một trong những chất chống oxy hóa mạnh mẽ.

Hydrogen/Hydro là một nguyên tố hóa học phong phú trên trái đất tồn tại ở mọi nơi dưới nhiều hình thức, dạng khí hoặc dạng nước khi kết hợp với Oxygen/Oxy. Hydrogen có thể được tạo nên từ khí đốt, than đá, chất phân hủy sinh học và dầu hoặc tạo nên từ các loại năng lượng có thể tái tạo như gió, năng lượng thủy điện, năng lượng địa nhiệt hoặc năng lượng mặt trời. Ngoài ra, Hydrogen còn được tạo ra từ quá trình điện phân nước theo phản ứng hóa học ngược lại:

2H2 + O2 → 2H2O

2H2O → 2H2 + O2

Nước ion kiềm chứa nhiều Hydrogen được tạo ra từ qua quá trình điện phân nước của máy điện giải
Nước ion kiềm chứa nhiều Hydrogen được tạo ra từ qua quá trình điện phân nước của máy điện giải

Hydro là phân tử nước siêu nhỏ và dễ dàng thẩm thấu và hấp thụ vào cơ thể, vì vậy vật chất này có thể đi vào các tế bào suy yếu để loại bỏ các gốc tự do (nguyên nhân gốc rễ gây bệnh), trung hòa quá trình oxy hóa triệt để trong tế bào cơ thể người mà không ảnh hưởng đến một số loại gốc tự do có lợi. Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định và kết luận rằng: “Hydro là chất chống oxy hóa mạnh nhất và có lợi ích trực tiếp đến cơ thể người , hơn tất cả các chất chống oxy hóa khác”.

Từ bài viết trên cho thấy các tác hại stress oxy hóa đối với hệ tim mạch và chất chống oxy hóa mạnh mẽ giúp ngăn ngừa, phòng chống tình trạng này, hi vọng sẽ giúp bạn có thêm nhiều kiến thức hữu ích trong việc chăm sóc sức khỏe và phòng chống các bệnh do stress oxy hóa gây ra, nhất là bệnh về tim mạch.

Tác giả: Lệ Huyền

Nguồn: Theo Dân Trí, Vnexpress, otiv.com và Thế Giới Điện Giải

Góc Truyền Thông và Sự Kiện

Tin liên quan

Back To Top